GOLD FORUM

Kiến Thức Cơ Bản về vàng và forex - Hoa Cat Tuong

hoacattuong
Các thị trường tài chính bao gồm:
Các cặp tiền tệ là công cụ tài chính của thị trường Ngoại hối. Tại đây người ta dùng một loại tiền tệ này để đổi lấy một loại tiền tệ khác. Trong thị trường Ngoại hối một đồng tiền không thể tăng giá mãi vì điều đó có nghĩa là một đồng tiền khác sẽ trở nên hoàn toàn mất giá và chủ sở hữu của nó sẽ bị phá sản. Về mặt lý thuyết, bất cứ quốc gia nào cũng có thể ở bờ vực phá sản và đồng tiền của nó có nguy cơ mất giá mạnh, tuy nhiên, đây là hiện tượng rất hiếm khi xảy ra trong nền kinh tế hiện đại. Sự phụ thuộc lẫn nhau của các nền kinh tế cũng đồng nghĩa với việc bất cứ khi nào một sự mất cân bằng kinh tế lớn giữa hai quốc gia xuất hiện thì biến động tỷ giá cũng đồng thời diễn ra và các chính phủ sẽ buộc phải có biện pháp can thiệp kịp thời. Hầu hết đồng tiền của các quốc gia đều được gắn với một trong tám đồng tiền mạnh của thế giới -chiếm tới 99% doanh số giao dịch của thị trường Ngoại hối- hoặc gắn với rổ bao gồm tất cả các đồng tiền này. Đó là lý do vì sao sự phá sản của một quốc gia lại có khả năng gây ra một cuộc khủng hoảng sâu rộng hơn nhiều trong hệ thống kinh tế thế giới nói chung. Các nước phát triển luôn luôn hướng tới sự cân bằng trong các quan hệ kinh tế, và xu hướng này được phản ánh rõ nét trong tỷ giá hối đoái.
Tiếp theo, chúng ta sẽ tìm hiểu sự khác biệt giữa cơ hội đầu tư trên thị trường Ngoại hối với các thị trường tài chính khác.
Vốn đầu tư ít
Chỉ với vài chục hay vài trăm đô-la Mỹ, nhà đầu tư đã có thể tham gia giao dịch Ngoại hối, điều này làm cho rào cản tham gia thị trường là rất nhỏ. Thị trường ngoại hối còn cho phép các nhà kinh doanh sử dụng đòn bẩy, giúp họ có cơ hội sử dụng nguồn vốn lớn gấp vài trăm lần số tiền ký quỹ ban đầu trong tài khoản của mình. Một khoản đầu tư nhỏ sẽ hạn chế bạn tạo ra lợi nhuận lớn. Tuy nhiên, nó sẽ là phương tiện hoàn hảo để bạn thử giao dịch thực sự bằng tiền thật và trên thị trường thật. Kinh doanh thành công đòi hỏi bạn phải đầu tư nhiều thời gian và sự rèn luyện. Thế nên những ai chăm chỉ và biết duy trì nguyên tắc đầu tư sẽ gặt hái được rất nhiều thành công. Thực tế là tỷ lệ lợi nhuận/vốn đầu tư trên thị trường Ngoại hối mở ra cho các nhà kinh doanh tại đây cơ hội mà không thị trường nào có được.
Tính thanh khoản cao
Do số lượng đông đảo các thành phần tham gia vào thị trường và khối lượng giao dịch khổng lồ, bất kỳ giao dịch tiền tệ nào trên thị trường Ngoại hối cũng được thực hiện nhanh chóng chỉ trong vòng một vài giây và (quan trọng hơn) là theo đúng giá thị trường. Hai yếu tố này hoàn toàn đối lập với thị trường cổ phiếu. Trên thị trường cổ phiếu, ngày giao dịch bị giới hạn chỉ trong vòng vài giờ và việc một cổ phiếu được chào bán ở một mức giá nào đó không có nghĩa là bạn có thể mua cổ phiếu đó với khối lượng mong muốn tại mức giá đó hay là gần đó.
Dễ dàng tiếp cận
Về mặt kỹ thuật, một nhà kinh doanh chỉ cần có một máy tính cá nhân có nối mạng Internet là có thể tham gia giao dịch. Nhà kinh doanh phải ký hợp đồng với nhà môi giới, sau đó tải và cài đặt phần mềm giao dịch trên máy tính của mình.
Không cần nơi làm việc cố định
Bạn có thể thực hiện giao dịch ở bất kỳ đâu: ở nhà, ở cơ quan, thậm chí cả ở ngoài trời. Hình ảnh một nhà kinh doanh với chiếc máy tính xách tay của mình quả thật vô cùng thích hợp để quảng cáo cho thị trường Ngoại hối. Đương nhiên, khi thực hiện một công việc nghiêm túc bao giờ người ta cũng cần phải tập trung cao độ, và một môi trường thuận lợi cho việc đó là vô cùng cần thiết. Tuy nhiên, nhà kinh doanh ngoại hối không bị bó buộc vào thời gian hay địa điểm giao dịch, điều này sẽ thuận lợi hơn rất nhiều cho những nhà kinh doanh không chuyên, chỉ dành một phần thời gian vào việc đầu tư Ngoại hối.
Thị trường hoạt động liên tục
Bạn có thể thực hiện giao dịch 24 giờ một ngày, năm ngày một tuần từ thứ Hai đến thứ Sáu. Điều này giúp bạn phản ứng ngay lập tức truớc các sự kiện không lường trước.
Chi phí xử lý giao dịch thấp
Đối với một khách hàng, chi phí xử lý giao dịch là khoảng chênh lệch giữa giá chào mua và giá chào bán (spread), không bao gồm các chi phí cho máy tính và truy cập Internet. Nhờ chi phí xử lý giao dịch thấp và không có hoa hồng môi giới mà các nhà kinh doanh cá nhân có thể dễ dàng tham gia giao dịch Ngoại hối như một hình thức đầu tư đơn giản và thuận tiện chỉ với những khoản tiền ký quỹ nhỏ.
Số lượng công cụ giao dịch phong phú
Rất nhiều cặp tiền tệ có tính thanh khoản cao được giao dịch hàng ngày trên thị trường ngoại hối. Trên cùng một phần mềm giao dịch, bên cạnh kinh doanh hối đoái tiền tệ, các nhà môi giới cũng thường cung cấp cả các Hợp đồng Chênh lệch, hay còn gọi là CFD (Contracts for Difference), kim loại quý (Vàng, Bạc), và các hợp đồng tương lai trong cho khách hàng của mình. Các nhà kinh doanh có thể lựa chọn các cặp tiền tệ phù hợp nhất với chiến lược kinh doanh của mình đồng thời đầu tư vào các công cụ giao dịch khác nhằm quản lý rủi ro một cách hiệu quả. Cần lưu ý rằng, khái niệm “đi lên” (bull market) hay “đi xuống” (bear market) trên thị trường Ngoại hối chỉ mang tính tương đối bởi trong cùng một giao dịch chúng ta mua vào một ngoại tệ này cũng có nghĩa là chúng ta đang bán ra một ngoại tệ khác. Trong cặp tiền tệ đó, một đồng tiền giảm giá thì cũng có nghĩa là đồng tiền kia đang tăng giá và nhà kinh doanh có thể kiếm lời từ cả đồng tiền đang tăng giá lẫn đồng tiền đang giảm giá. Bởi vậy, thị trường nhìn chung không bao giờ trải qua cái gọi là tình trạng “đi xuống”. Điều này không giống như trên thị trường cổ phiếu, khi tình trạng “đi lên” được coi là bình thường, và một nhà kinh doanh mong muốn kiếm lời từ một cổ phiếu đang giảm giá sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn về mặt kỹ thuật và nhìn chung là phải gánh chịu mức rủi ro cao. Thường thì việc này gần như là không thể tại các thị trường cổ phiếu chưa phát triển đầy đủ.
Chúng ta hãy cùng xem xét một cách cụ thể hơn sự khác biệt giữa thị trường Ngoại hối và thị trường cổ phiếu. Như đã nói ở trên, điều quan trọng nhất đối với thị trường cổ phiếu là giá cả phải đi lên, đây cũng được xem là điều kiện thuận lợi nhất cho việc kiếm lời ở những thị trường có quy mô nhỏ và với các cổ phiếu có tính thanh khoản không cao. Bên cạnh đó, trong số rất nhiều công ty khác nhau được niêm yết trên thị trường, trước khi đưa ra quyết định lựa chọn một cổ phiếu nào đó, bạn cần phải nghiên cứu lĩnh vực kinh doanh mà công ty đó đang hoạt động. Hơn nữa, bạn còn cần phải có những hiểu biết cơ bản về các chỉ số tài chính cũng như biết cách đọc báo cáo tài chính hàng quý và thường niên của các công ty này nhằm đánh giá được vị thế tài chính và mức độ hấp dẫn đầu tư của chúng. Hãy cùng nhìn vào bảng dưới đây:

Thị trường chứng khoán
Thị trường Ngoại hối
Một giao dịch chỉ được thực hiện trong trường hợp người mua muốn mua và người bán muốn bán một lượng cổ phiếu nào đó. Do đó, tính thanh khoản luôn là một vấn đề.
Luôn có một số lượng lớn người mua và người bán trên thị trường nên thanh khoản được luôn đảm bảo.
Các giao dịch chỉ được xử lý trong thời gian làm việc của một phiên giao dịch.
Giao dịch được xử lý 24 giờ một ngày.
Cổ tức được trả vào một thời điểm nhất định cho một khoảng thời gian xác định nào đó.
Một khoản chênh lệch lãi suất khi để một trạng thái giao dịch mở qua đêm sẽ được cộng vào hoặc trừ đi trên số dư tài khoản giao dịch hàng ngày
Thông thường khách hàng phải thanh toán toàn bộ giá trị của giao dịch



Sử dụng đòn bẩy cho phép khách hành chỉ phải ký quỹ 1% giá trị giao dịch.
Trừ một vài trường hợp ngoại lệ, một giao dịch phải lần lượt trải qua hai quá trình riêng rẽ là mua và bán, có nghĩa là bạn phải mua vào rồi sau đó mới có thể bán ra một cổ phiếu nào đó.


Các giao dịch được xử lý như sau: một nhà kinh doanh có thể mua vào một loại tiền tệ rồi sau đó bán ra hoặc bán ra trước rồi mua vào sau.
Hoa hồng của nhà môi giới có thể lên tới 1% giá trị giao dịch.
Không có hoa hồng môi giới, chi phí xử lý giao dịch chính là khoảng chênh lệch giữa giá chào mua và giá chào bán.
Các giao dịch được thanh toán bằng đồng tiền của quốc gia nơi các giao dịch đó diễn ra. Vì vậy, các nhà kinh doanh phải chịu chi phí chuyển đổi ngoại tệ cũng như rủi ro thay đổi tỷ giá hối đoái theo chiều hướng bất lợi.

Số dư trên tài khoản giao dịch của một khách hàng được tính bằng một loại ngoại tệ xác định bất kể người đó đang giao dịch với các cặp tiền tệ nào (ví dụ, nếu số dư trên tài khoản giao dịch của khách hàng là đô-la Mỹ và khách hàng thực hiện giao dịch trên cặp GBP/JPY thì lợi nhuận hay thua lỗ của anh ta đều sẽ được tự động quy đổi ra đồng đô-la Mỹ theo tỷ giá tại thời điểm quy đổi).
Hãy cùng tiếp tục so sánh thị trường Ngoại hối với thị trường các hợp đồng tương lai. Đầu tiên, khối lượng giao dịch của thị trường Ngoại hối lớn gấp 45 lần khối lượng giao dịch của thị trường tương lai. Bảng sau đây chỉ ra những khác biệt cơ bản giữa hai thị trường này:

Ưu điểm
Thị trường Ngoại hối
Thị trường tương lai
Tỷ lệ đòn bẩy lên tới 1:100, 1:200 hoặc cao hơn nữa.

Không
Nhà kinh doanh có thể dễ dàng kiểm tra tính chính xác của các mức giá được niêm yết

Không
Không phải chịu phí môi giới khi giao dịch

Không
Giao dịch suốt 24 giờ trong ngày

Không

Source: http://amcenter.vn/home/index.php?op...n-1&Itemid=169
hoacattuong
Tôi nghĩ ngoài George Soros ra, không có nhà kinh doanh xuất chúng nào khác trên thị trường Ngoại hối. Ông là chủ của công ty đầu tư Quantum với tổng tài sản đang quản lý hiện lên tới trên 20 tỷ đô-la Mỹ. Tài sản cá nhân của ông ước tính đã lên tới trên 8 tỷ đô-la.
George Soros thực hiện giao dịch khổng lồ nhất của mình vào ngày 16 tháng Chín năm 1992 (ngày được gọi là “Thứ Tư đen tối) khi Đảng Bảo thủ đang cầm quyền của nước Anh quyết định rời khỏi Hệ thống tiền tệ chung Châu Âu. Khi đó, ông đã bán một khối lượng lớn đồng Bảng Anh tương đương khoảng 10 tỷ đô-la Mỹ và kiếm lời nhờ sự mất khả năng ứng phó của Ngân hàng trung ương Anh trong việc hỗ trợ đồng nội tệ trước diễn biến không có lợi trên thị trường. Cuối cùng, Ngân hàng này đã buộc phải hạ giá đồng tiền của mình. Soros kiếm khoảng 1.1 tỷ đô-la lợi nhuận nhờ đó và trở nên nổi tiếng với thành tích là “người đàn ông phá hỏng Ngân hàng trung ương Anh Quốc.”

Người giỏi nhất trong số những người giỏi nhất
Larry Williams là người có rất nhiều thành tích trong kinh doanh. Ông đã hai lần biến 10.000 đô-la thành 1.000.000 đô-la. Những câu chuyện như thế rất hiếm khi xảy ra. Nếu may mắn bạn có thể kiếm lời 100-150% với mức rủi ro có thể chấp nhận được, nhưng kết quả đó vẫn còn là khá khiêm tốn so với những gì Larry Williams đã làm.
Liz Cheval là chủ tịch công ty Tài chính EMC, hiện sống ở Chicago, bang Illinois. Bà từng là nhân viên của một cơ quan chính phủ. Hiện tại bà đang quản lý một quỹ với giá trị trên 100 triệu đô-la.
Bill Dunn là Chủ tịch của công ty Dunn Capital, tại Stuart, bang Florida. Ông từng là giáo viên và giờ đây đang quản lý tài sản lên tới 900 triệu đô-la.
John Henry là chủ tịch của công ty John Henry and Co, tại Boca Raton, bang Florida. Ông từng làm việc trong ngành nông nghiệp và giờ đây quản lý khoảng 1 tỷ đô-la Mỹ. Năm 1984, ông chỉ có vẻn vẹn 16.313 đô-la trong tài khoản.
Nhà kinh doanh thành công đồng thời là một giảng viên cao học Alexander Elder từng chia sẻ một vài lời khuyên với độc giả của mình trong cuốn sách: “Giao dịch để mưu sinh” mà tôi đã đề cập đến nhiều lần. Sau đây là một trích đoạn:
Các giao dịch của bạn phải dựa trên những nguyên tắc rõ ràng đã được đặt ra từ trước. Bạn phải phân tích những cảm giác của mình trong khi thực hiện giao dịch, và chắc chắn rằng những quyết định mình đưa ra là hoàn toàn hợp lý. Bạn cần xây dựng phương pháp quản lý tiền bạc sao cho không khoản thua lỗ nào có thể khiến bạn khánh kiệt và phải rời khỏi cuộc chơi.
Hãy bắt đầu lưu giữ một cuốn nhật ký kinh doanh – thứ ghi lại toàn bộ các giao dịch bạn đã thực hiện, trong đó nêu rõ lý do bạn quyết định tham gia hoặc rời khỏi thị trường. Hãy tìm kiếm nhịp điệu lặp đi lặp lại của những lần thành công và thua lỗ. Những ai không học hỏi từ quá khứ sẽ lặp lại sai lầm của nó trong tương lai.
Đừng bao giờ thay đổi kế hoạch một khi trạng thái giao dịch của bạn đã được mở.
Bạn chỉ có thể thành công trong kinh doanh nếu coi nó là một mục tiêu nghiêm túc để theo đuổi. Kinh doanh theo cảm xúc nghĩa là tự sát. Để đảm bảo thành công, hãy thực hành những phương pháp quản lý tiền hợp lý và chặt chẽ. Một nhà kinh doanh giỏi theo dõi tình hình tài chính của mình kỹ càng như một thợ lặn chuyện nghiệp luôn cẩn thận với nguồn cung cấp không khí của anh ta vậy.
“Đừng mạo hiểm tất cả tiền bạn có” là nguyên tắc quan trọng nhất của nhà kinh doanh.
Những nhà kinh doanh thành công nhìn nhận thua lỗ như những người thích uống rượu nhưng không hề nghiện rượu. Họ chỉ uống một chút rồi thôi. Nếu những nhà kinh doanh này liên tục thua lỗ, họ sẽ nhận thấy ngay tín hiệu cho thấy có gì đó không ổn: đã đến lúc dừng và suy nghĩ lại về những phân tích cũng như phương pháp kinh doanh của mình. Những kẻ thất bại không bao giờ dừng lại được – họ tiếp tục dấn thân vào thị trường bởi họ bị mê hoặc bởi sự thích thú khi tham gia trò chơi và bởi niềm hy vọng sẽ giành thắng lợi lớn.
Một nhà kinh doanh chuyên nghiệp dùng đầu óc của mình để suy nghĩ và vì vậy, luôn luôn bình tĩnh. Chỉ có những kẻ không chuyên mới trở nên quá hưng phấn hoặc quá buồn bã vì kết quả kinh doanh của mình. Phản ứng theo cảm xúc là điều quá xa xỉ và bạn không bao giờ đủ giàu có để nuôi dưỡng nó cả.
Một nhà kinh doanh ở trong trạng thái bình tĩnh và thoải mái có thể tập trung tìm kiếm những cơ hội tốt và an toàn nhất.
Dấu hiệu rõ ràng nhất của trò cá cược là sự mất khả năng chống chọi lại với sự thôi thúc phải đánh cược. Nếu bạn cảm thấy mình đang giao dịch quá nhiều mà kết quả lại không tốt thì hãy dừng việc này lại khoảng một tháng. Việc đó sẽ cho bạn cơ hội đánh giá lại phương pháp kinh doanh của chính mình.
Công chúng luôn cần những thần tượng, và vì thế những thần tượng mới sẽ luôn xuất hiện. Nhưng là một nhà kinh doanh thông minh, bạn phải hiểu rằng trong dài hạn, sẽ không có nhân vật xuất chúng nào có thể khiến bạn trở nên giàu có. Bạn phải tự làm lấy điều đó thôi!
Trong lời kết luận, A. Elder nói rằng “các nhà kinh doanh thường gặp vấn đề với việc bóp cò súng – mua hoặc bán khi mà những phương pháp phân tích của họ mách bảo họ điều đó.”
Sợ đặt lệnh là vấn đề nghiêm trọng nhất mà một nhà kinh doanh nghiêm túc thường mắc phải. “Giờ bạn đã có phần mềm giao dịch, đã học được nguyên tắc quản lý tiền, biết các nguyên tắc tâm lý của việc cắt lỗ. Giờ đây bạn phải thực sự bắt tay vào kinh doanh thôi,” A. Elder kết luận.
hoacattuong

Bác cho phép e thêm tiếp thông tin nha, e mới sưu tầm được

CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA FED
Mục tiêu chính của một ngân hàng trung ương là thực thi chính sách tiền tệ. Tại Mỹ, Ủy ban thị trường Mở Liên bang (Federal Open Market Committee – FOMC) thuộc Cục Dự trữ Liên bang chịu trách nhiệm về chính sách này.
Các chỉ số quan trọng được xem xét khi đưa ra các quyết định liên quan đến chính sách tiền tệ là:
Tỷ lệ tăng trưởng GDP thực. Tỷ lệ này được cho là tối ưu (không có rủi ro lạm phát) khi đạt khoảng 2-2.5% năm. Nếu GDP tăng trưởng quá nhanh thì Cục dự trữ Liên bang sẽ coi đó như một dấu hiệu cho thấy cần phải tăng lãi suất tái cấp vốn.
Hiệu suất Sử dụng: Hiệu suất Sử dụng tối ưu là khoảng 82-84%. Trong trường hợp này sẽ không có rủi ro lạm phát và tỷ lệ tăng trưởng công nghiệp tương đối cao. Nếu hiệu suất sử dụng vượt quá 82-84% thì Cục dự trữ Liên bang sẽ coi đó là dấu hiệu cho thấy cần tăng lãi suất tái cấp vốn.
Tỷ lệ việc làm và tỷ lệ thất nghiệp. Khoảng 140,000 việc làm mới được tạo ra mỗi tháng được coi là con số tối ưu. Tỷ lệ thất nghiệp khoảng 5.0-5.5% cũng được coi là bình thường. Ở mức này, lương sẽ tăng cùng với tỷ lệ việc làm. Nếu tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn 5.0-5.5% sẽ có nguy cơ xảy ra lạm phát.
Chỉ số Giá Tiêu dùng và Chỉ số Giá Sản xuất là hai chỉ số chính thúc đẩy lạm phát. Tỷ lệ trung bình tối ưu là khoảng 2.5% với mức biến động trong khoảng từ 2-3%. Lý do chính của việc tăng lãi suất tái cấp vốn là chính sách kiểm soát lạm phát của Fed.
Các nguồn lực Dự trữ và Số lượng đơn đặt hàng mới của các hàng hóa công nghiệp. Các nguồn lực Dự trữ liên tục giảm là dấu hiệu cho thấy sản lượng công nghiệp tăng trưởng quá nhanh và kết quả là nguy cơ lạm phát cao. Số lượng đơn hàng quá hạn cũng là một chỉ số tiêu cực bởi nó cho thấy các nhà cung cấp không đáp ứng đủ nhu cầu đang tăng mạnh. Xem xét những yếu tố này, Fed sẽ theo đuổi chính sách tiền tệ chặt chẽ trước khi nền kinh tế rơi vào tình trạng tăng trưởng nóng.
Cung tiền. M2 trong tổng cung tiền tăng trưởng khoảng 3% được xem là tối ưu và nó đảm bảo sự ổn định giá cả cũng như tăng trưởng GDP. Nếu cung tiền tăng quá nhanh (trên 5% một năm) Cục dự trữ Liên bang sẽ buộc phải áp dụng các biện pháp nhằm kiềm chế tăng trưởng kinh tế quá nhanh.
[SIZE=3] Lãi suất điều hòa vốn qua đêmThực được tính toán bằng cách lấy lãi suất của Fed trừ đi CPI cơ bản (Core CPI). Nếu lãi suất này ở trong mức 2.00-2.75% thì chính sách tiền tệ của Fed được xem là trung hòa. Nếu nó dưới 2% tức là Fed đang thực hiện chính sách tiền tệ kích thích tăng trưởng kinh tế. Còn ngược lại, nếu nó ở trên mức 2.75% thì có nghĩa là Fed đang theo đuổi chính sách tiền tệ nhằm kiềm chế lạm phát.
hoacattuong
Các nhà kinh doanh mới thường thì sẽ không thể kiếm được chút lợi nhuận nào trong tuần giao dịch đầu tiên của mình. Hãy cùng xem lý do của việc này. Nếu chúng ta phân tích kỹ hơn quá trình giao dịch của một vài nhà kinh doanh mới, chúng ta có thể tìm ra nhiều xu hướng chung như trình bày ở dưới đây.
Thiếu kinh nghiệm áp dụng các phương pháp phân tích khác nhau
Bạn không thể tham gia vào một trò chơi mà không nắm được luật lệ của nó. Điều này cũng đúng đối với hoạt động đầu tư. Để có thể bắt đầu, bạn cần hiểu được các phương pháp phân tích chính của các thị trường tài chính, học cách ứng dụng chúng vào thực tế cũng như sử dụng kết hợp chúng với nhau và cố gắng hiểu được lô-gic của các thành phần tham gia thị trường. Chỉ khi làm được các điều này, bạn mới có thể hiểu được các quy luật khi giao dịch và cải thiện được kết quả kinh doanh của mình.
Hiểu không đúng các triết lý và động lực kinh doanh
Đây là ví dụ từ một cuốn cẩm nang cho nhà kinh doanh mới: bạn nên rút ra kết luận về xu hướng thị trường hiện tại dựa trên các thông tin từ biểu đồ dài hạn (để bắt đầu, hãy xem những gì diễn ra trên biểu đồ ngày, sau đó phân tích biểu đồ giờ và cuối cùng cố gắng phán đoán xu hướng). Các nhà kinh doanh mới thường không tuân thủ quy tắc này và cố giao dịch dựa trên các biểu đồ ngắn hạn. Ví dụ, họ thấy có cơ hội tốt để tham gia thị trường thể hiện trên biểu đồ 5-phút và gấp rút mở một trạng thái với các lệnh Cắt lỗ và Chốt lời tiêu chuẩn. Không có gì đáng ngạc nhiên nếu trong các tình huống như thế này, lệnh Cắt lỗ sẽ được kích hoạt. Một nhà kinh doanh sẽ miễn cưỡng đặt mức giá Cắt lỗ quá gần giá bắt đầu mặc dù xu hướng trên biểu đồ theo giờ là theo chiều hướng ngược lại.
Thất bại trong việc tuân thủ các quy tắc Quản lý Tiền
Giao dịch mà không đặt lệnh Cắt lỗ. Nếu một nhà kinh doanh giới hạn các khoản lỗ của mình thì anh ta sẽ không cần tính toán các mức Cắt lỗ cho từng giao dịch. Anh ta chỉ cần đưa ra một quyết định thống nhất là anh ta sẽ đóng một trạng thái nếu giá cả chạm tới một mức nào đó hoặc thị trường biến động bất lợi cho anh ta. Đây là cách mà các nhà kinh doanh hay sử dụng. Nhưng sẽ thật là rủi ro và ngớ ngẩn khi từ chối đóng một trạng thái gây thua lỗ với hi vọng là sớm hay muộn gì thị trường cũng sẽ quay lại các mức giá trước đây.
Đặt lênh Cắt lỗ ở mức giá quá gần với mới mức giá thị trường hiện tại. Rất dễ để có thể tính toán được mức giá Cắt lỗ: nếu giá cả biến động trung bình hơn 10 – 15 điểm phần trăm thì độ lệch trong tính toán các ngưỡng hỗ trợ và kháng cự là 10 điểm phần trăm, khoảng cách giữa giá bắt đầu và mức giá có thể phá vỡ ngưỡng hỗ trợ hoặc kháng cự là 10 – 15 điểm phần trăm nữa, do vậy mức Cắt lỗ lý tưởng là 30 – 40 điểm phần trăm tính từ mức giá bắt đầu. Đây có thể coi là cách ước lượng cơ bản với các giao dịch trong thực tế. Mức Cắt lỗ thấp hơn có nghĩa là các lệnh Cắt lỗ của bạn sẽ dễ bị kích hoạt hơn và điều này là không có lợi cho bạn với vị thế là một nhà kinh doanh.
Nhà kinh doanh không gắn chặt vào một chỉ số rủi ro/lợi nhuận cố định nào. Tôi khuyên bạn nên gắn với một chỉ số Chốt lời/Cắt lỗ cố định với mức lãi tiềm năng cao hơn mức lỗ tiềm ẩn (ví dụ, tỷ lệ ½ rủi ro/lợi nhuận). Đây là một nguyên tắc mà rất nhiều người áp dụng trong đời sống hàng ngày một cách vô thức. Ví dụ, khi bạn mua một vé xổ số, bạn biết rằng chi phí bỏ ra thấp hơn nhiều so với lợi nhuận tiềm năng. Hoặc khi bạn mang thêm một món đồ nào đó với bạn, một cái ô, nếu như có vẻ trời sắp mưa.
Ví dụ, nếu mức Cắt lỗ của bạn là 100 điểm phần trăm và mức Chốt lời của bạn chỉ là 5 điểm phần trăm, bạn đã phá vỡ quy tắc về chỉ số rủi ro/lợi nhuận. Nếu bạn sử dụng chiến lược nói trên, bạn sẽ phải thực hiện 95% số giao dịch thu về lợi nhuận hoặc ít nhất, không bị thua lỗ. Con số này là cực khó để có thể trở thành hiện thực, ngay cả với người như George Soros! Đối với các nhà phân tích chuyên nghiệp nhiều kinh nghiệm thì tỷ lệ dự đoán chính xác của họ cũng chỉ là từ 60 – 80%.
[SIZE=3]Quỹ thời gian dùng cho phân tích quá ngắn. [FONT=Palatino Linotype][COLOR=#000000][FONT=arial]Thị trường luôn luôn biến động. Ví dụ, một ngân hàng nhận được một lệnh mua và bán một lượng lớn đồng tiền nào đó trong một khoảng thời gian ngắn. Kết quả là, tỷ giá hối đoái tăng thêm 10 – 15 điểm phần trăm một cách nhanh chóng nhưng rồi cũng nhanh chóng quay trở lại mức ban đầu. Trong trường hợp này, việc phân tích biểu đồ M1 cho bạn thấy cơ hội để kiếm lời 15 điểm phần trăm, mặc dù khả năng là không cao. Cơ hội để kiếm lời 40 điểm phần trăm ít phụ thuộc vào những biến động giá ngẫu nhiên. Những việc phân tích biểu đồ theo giờ và khả năng kiếm lời 150 điểm phần trăm sẽ không bao giờ phụ thuộc vào biến động giá ngẫu nhiên, và các ngưỡng hỗ trợ và kháng cự áp dụng trên biểu đồ theo giờ là đang tin cậy hơn trên các biểu đồ ngắn hạn. Tất cả các con số nói trên đều mang tính tương đối, nhưng bản thân nguyên tắc mới là điều cần lưu ý: các thay đổi của xu hướng thị trường sẽ chỉ có thể được dự đoán với tầm nhìn dài hạn. Nếu bạn không trông cậy vào may mắn, thì bạn nên dựa vào nguyên tắc nói trên khi tiến hành giao dịch trên thị trường Ngoại hối.
hoacattuong
Thiếu khả năng kiểm soát cảm xúc sẽ dẫn đến khả năng thua lỗ có thể xảy ra. Hiểu biết tâm lý con người là việc rất cần thiết để kiểm soát cảm xúc. Động lực muốn nâng cao kết quả giao dịch của nhà kinh doanh phải gắn liền với mong muốn hiểu biết càng nhiều càng tốt về những quyết định chính anh ta đã đưa ra cũng như động cơ của chúng.
Tự phân tích sẽ cho bạn rất nhiều lợi thế trong khi giao dịch trên thị trường. Bản thân tôi không phải là một chuyên gia tâm lý, thế nhưng, giống như một người đầu bếp có thể tự đánh giá các món ăn của mình, một nhà kinh doanh có khả năng hiểu được yếu tố tâm lý có ảnh hưởng tới các quyết định giao dịch của họ như thế nào. Mục tiêu của tôi trong phần này là chia sẻ kinh nghiệm của chính mình với hy vọng các bạn có thể nâng cao kết quả kinh doanh của bản thân.
Đối với những người mới tham gia vào kinh doanh ngoại hối, dường như mọi thứ với họ đều rất thú vị, dễ dàng và dễ hiểu, họ không hề cảm thấy sợ, họ không tin vào thành kiến, họ không hề có ý nghĩ rằng mình nên, ví dụ như, dùng một tấm bùa hộ mệnh hoặc suy nghĩ nghiêm túc về tác động của các tuần Trăng lên kết quả giao dịch của mình. Có lẽ vì thế mà họ có tất cả cơ hội để chớp lấy vận may!
Kinh doanh cũng giống như khiêu vũ – đầu tiên, bạn phải chú ý tới nhịp chân, rồi đến tư thế và cuối cùng là nhịp chân của bạn nhảy! Khi đã có kinh nghiệm bạn sẽ dễ dàng điều khiển cơ thể mình hơn, nhưng bạn vẫn cần phải tập trung và cảm nhận sự phối hợp nhịp nhàng, và như vậy là bạn vẫn cần phải tập luyện thêm nữa. Cũng như với những nghề nghiệp khác, kinh doanh trên các thị trường tài chính đòi hỏi bạn phải học tập cũng như tích lũy những kinh nghiệm chuyên biệt của nó. Thêm vào đó, mỗi lĩnh vực đều có những cách thức khác nhau để đánh giá thành công. Công việc của một kỹ sư là tạo dựng những công trình bền vững. Khi ngắm nhìn những tòa nhà chọc trời mọc lên quanh thành phố, chúng ta sẽ không bao giờ nói rằng một người kỹ sư đã thành công bởi chỉ có 1/3 số công trình mà anh ta xây dựng đổ xập sau khi thi công, mặc dù những công trình còn lại có tồn tại qua hàng trăm năm. Kinh doanh ngoại hối lại là chuyện khác. Nếu 30% các giao dịch mà bạn thực hiện là thua lỗ thì bạn có thể tự tin mà nói rằng mình là một chuyên gia. Thua lỗ chính là một phần của thành công. Việc không thể đối mặt với thực tế rằng thua lỗ là điều không thể tránh khỏi đã khiến nhiều nhà kinh doanh bỏ cuộc từ khi mới bắt đầu tham gia giao dịch trên thị trường. Vậy bạn có muốn trở thành một nhà kinh doanh thành công không? Hãy suy nghĩ hợp lý và học cách kiểm soát cảm xúc của chính bạn.
Đối với nhiều người mới bắt đầu, việc kinh doanh cũng tương tự như chiếc cầu trượt siêu tốc roller coaster – khi giao dịch có lời họ nghĩ mình là thiên tài, còn khi thua lỗ thì họ rơi vào khủng hoảng. Những người chuyên nghiệp thì vẫn tự tin và bình tĩnh cho dù gặp phải thua lỗ liên tiếp vì họ nhận thức được một sự thực giản đơn là để cảm xúc lấn át sẽ chẳng có tác dụng gì ngoài việc làm cho họ thua lỗ thêm.
Mặt khác, khi giao dịch thành công thì cảm giác tự hào và thỏa mãn với bản thân là điều rất bình thường. Tuy nhiên, tự tin quá mức rất có thể sẽ là vấn đề khi mà, sau một loạt giao dịch thành công, bạn sẽ tăng mức độ rủi ro vì cho rằng thành công của bạn sẽ kéo dài mãi. Cảm giác vui sướng có thể khiến bạn dễ dàng quên đi những kế hoạch và nguyên tắc ban đầu mình đã đặt ra. Nhưng hãy nhớ rằng, kinh doanh khác xa với cá cược, và đó là một công việc kinh doanh nghiêm túc và mạo hiểm. Các quyết định giao dịch của bạn phải khách quan bất kể thị trường có đang diễn biến thế nào.
[SIZE=3][COLOR=#000000][FONT=arial]Vậy thì, hãy cố gắng trả lời câu hỏi chính: “Làm thế nào để kiểm soát cảm xúc của bản thân?” Đầu tiên, hãy hiểu rằng cả lợi nhuận và thua lỗ đều sẽ xảy đến với tất cả các nhà kinh doanh. Những giao dịch thành công sẽ mở đường cho những giao dịch thua lỗ và ngược lại. Hãy chấp nhận điều này và nó sẽ giúp ích cho bạn rất nhiều. Kinh doanh Ngoại hối không chỉ đơn giản là phân tích biểu đồ và các tin tức kinh tế. Điều quan trọng hơn là tâm lý thị trường và tâm lý của cá nhân nhà kinh doanh. Kiểm soát cảm xúc chính là bước đầu tiên để kinh doanh thành công.
hoacattuong
Em chia sẻ thêm thông tin vừa tìm được

Nhừng hệ thống ngân hàng tham gia trên thị trường Ngoại hối
Các ngân hàng trung ương
Các ngân hàng trung ương tạo thành một nhóm riêng biệt trong số các thành phần tham gia vào thị trường Ngoại hối. Chức năng của họ là phát hành tiền, quản lý nền kinh tế và đảm bảo sự ổn định của đồng tiền quốc gia, qua đó đảm bảo sự tăng trưởng ổn định của nền kinh tế.
Bên cạnh đó, một trong những chức năng quan trọng khác của một ngân hàng trung ương trong một nền kinh tế thị trường là đảm bảo ổn định giá cả và kiểm soát lạm phát. Trên đây là những lý do giải thích vì sao hành động của một ngân hàng trung ương của bất kỳ quốc gia nào cũng đều thu hút sự chú ý của những người tham gia vào thị trường Ngoại hối. Ngân hàng trung ương tác động tới thị trường Ngoại hối theo hai cách, trực tiếp thông qua việc can thiệp vào đồng tiền hoặc gián tiếp thông qua xác định lãi suất cơ bản. Ngân hàng trung ương có thể theo đuổi chính sách làm tăng hoặc làm giảm giá trị của đồng tiền quốc gia, tùy thuộc vào thực trạng của nền kinh tế và các yêu cầu về quản lý; đồng thời, có thể hành động độc lập hoặc hợp tác với các ngân hàng trung ương khác trong khi điều hành chính sách hối đoái hoặc tiến hành can thiệp trực tiếp vào đồng tiền của quốc gia mình. Việc kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng trung ương cung cấp ngoại tệ cho khu vực kinh tế nhà nước hoặc giúp thực hiện các giao dịch đặc thù của bộ máy chính phủ (ví dụ, khi chuyển đổi tiền, bán trái phiếu chính phủ, .v.v.), nó cũng mua và bán đồng nội tệ cho các ngân hàng thương mại.
Phương tiện quản lý chủ yếu của ngân hàng trung ương là lãi suất cơ bản. Lãi suất này chính là lãi suất mà ngân hàng trung ương cho các ngân hàng thương mại vay. Các ngân hàng thương mại cũng vay tiền của nhau theo lãi suất cơ bản (hoặc gần mức lãi suất này). Sự thay đổi lãi suất cơ bản cho phép điều chỉnh tình hình kinh tế của một quốc gia. Việc giảm lãi suất cơ bản sẽ khuyến khích đầu tư (chi phí đầu tư bằng vốn vay giảm) và góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trong khi đó, việc tăng lãi suất cơ bản lại giúp hạ nhiệt lạm phát. Lãi suất cao sẽ hạn chế giá cả tăng cao. Lãi suất cơ bản là phương tiện điều hành kinh tế hiệu quả nhất trong nền kinh tế thị trường.
Có một vài loại lãi suất do ngân hàng trung ương đặt ra, nhưng lãi suất cơ bản là chỉ số quan trọng nhất (Lãi suất điều hòa vốn dự trữ qua đêm của Fed – Fed’s Fund Rate tại Mỹ; lãi suất REPO tại Liên minh Châu Âu).
Việc các ngân hàng trung ương can thiệp trực tiếp vào tỷ giá đồng nội tệ rất hiếm khi xảy ra. Để làm được việc đó với mục đích làm tăng hay giảm giá trị của đồng nội tệ, ngân hàng trung ương trực tiếp tiến hành mua hoặc bán đồng nội tệ trên thị trường. Ngân hàng trung ương buộc phải làm vậy khi tỷ giá của đồng nội tệ vào thời điểm đó không phù hợp với tình hình kinh tế và nếu để kéo dài có thể gây tác động tiêu cực. Việc can thiệp có thể được tiến hành độc lập bởi một hoặc một vài ngân hàng trung ương kết hợp với nhau. Sự can thiệp đồng thời của nhiều ngân hàng trung ương phản ánh những biến động lớn về kinh tế, sự bất ổn về giá cả, những tin đồn trái ngược và tình trạng đáng lo ngại trên thị trường.
Việc can thiệp thường gây ra sự hoảng loạn và sợ hãi, nhưng đối với những tay chuyên nghiệp thì đây cũng có thể là cơ hội kiếm lời nhanh chóng và ít rủi ro. Các ngân hàng trung ương biết rằng yếu tố chính đảm bảo thành công của một chính sách can thiệp là nó phải nằm ngoài dự đoán (đó là lý do tại sao thông tin về những chính sách can thiệp trong tương lại thường được giấu kín), nhưng nó phải thể hiện tác động đáng kể lên tỷ giá hối đoái ngay sau khi được ban hành.
Một trong những hành động can thiệp lớn nhất trong lịch sử là của ngân hàng trung ương Châu Âu vào năm 2000- 2001 nhằm làm đồng euro tăng giá mạnh trở lại ngay khi nó đạt mức thấp kỉ lục 0.85 euro ăn 1 đô-la. Ngân hàng trung ương Nhật Bản cũng phải tìm đến giải pháp can thiệp trực tiếp vào năm 2004 khi cố gắng hạ tỷ giá vốn đang rất cao của đồng Yên Nhật, điều không hề có lợi đối với một nền kinh tế dựa nhiều vào xuất khẩu như Nhật Bản. Sự can thiệp được tiến hành trong vòng ba tháng kể từ khi đồng tiền này chạm mức 101 Yên ăn 1 đô-la.
Cục dự trữ Liên Bang Mỹ mà thực chất là một ngân hàng tư nhân (chắc nhiều người sẽ cảm thấy vô cùng kinh ngạc về điều này), là định chế có ảnh hưởng lớn nhất đối với thị trường Ngoại hối. Nó thể hiện những nguyên tắc căn bản của nền kinh tế Mỹ, trong đó khu vực tư nhân luôn nhận được sự hỗ trợ và bảo đảm từ phía chính phủ. Tuy nhiên, sự thực là hoạt động của nó được quy định rất chặt chẽ để trở thành công cụ hữu hiệu của chính phủ và lợi nhuận của nó đều được nộp vào ngân sách quốc gia.
Tất cả các ngân hàng trung ương trên thế giới đều có các chức năng tương tự nhau, tuy nhiên, vẫn có một vài trường hợp ngoại lệ. Điều quan trọng là chúng ta phải hiểu cơ chế ra quyết định liên quan đến các loại lãi suất cũng như dự đoán được quan điểm của những người đứng đầu các ngân hàng trung ương, .v.v. Chúng ta sẽ cùng khám phá hoạt động của 8 ngân hàng trung ương có ảnh hưởng nhất hiện nay.
Cục dự trữ Liên bang Mỹ
Cục dự trữ Liên bang Mỹ là ngân hàng trung ương có ảnh hưởng lớn nhất thế giới bởi trên 90% các hoạt động ngoại hối đều có liên quan tới các cặp ngoại tệ có đồng đô-la. Ủy ban Các thị trường mở Liên bang (FOMC – Federal Open Markets Committee) bao gồm 5 trong tổng số 12 vị chủ tịch của các Ngân hàng dự trữ Liên bang khu vực và 7 thành viên của Hội đồng thống đốc chính là cơ quan quyết định lãi suất của FED. Các cuộc họp của FOMC diễn ra 8 lần trong một năm theo lịch trình đã được quyết định từ trước. Quyết định về lãi suất và lý do khiến nó được thay đổi hoặc giữ nguyên được công bố sau khi cuộc họp diễn ra. Thường thì lý do lại được coi là quan trọng hơn bản thân quyết định về mức lãi suất vì nó cho phép người ta dự báo những thay đổi trong chính sách của FED trong tương lai cũng như những biến động lãi suất có thể xảy ra.
Mục tiêu chiến lược của Cục dự trữ Liên bang là đảm bảo tăng trưởng kinh tế và ổn định giá cả trong dài hạn. Theo luật Ngân hàng trung ương, hệ thống dự trữ Liên bang Hoa Kỳ chỉ chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Điều đó có nghĩa là ngân hàng này phải báo cáo các hoạt động của mình với Hạ viện, một phần của Quốc hội Hoa Kỳ, một lần một năm và với Ủy ban Ngân hàng quốc hội hai lần một năm. Tuy nhiên, Hội đồng thống đốc của cơ quan này là không thuộc quyền kiểm soát của Quốc hội, và như vậy là mối ràng buộc giữa nó và Quốc hội không hề chi phối hoạt động của nó. Ben Bernanke đã thay thế huyền thoại Alan Greenspan vào tháng Một năm 2006 và điều hành Cục dự trữ Liên bang từ đó đến nay. Người đứng đầu Cục dự trữ Liên Bang định kỳ báo cáo về tình hình kinh tế của đất nước cho Thượng viện. Sau khi FOMC nhóm họp và quyết định lãi suất của FED được công bố, chính nhân vật này sẽ là người đưa ra báo cáo đánh giá về tình hình kinh tế cũng như những hành động mà Cục dữ trữ Liên bang có thể sẽ thực hiện liên quan đến quá trình điều hành nền kinh tế. Hệ thống dự trữ Liên bang không sở hữu vàng hay ngoại tệ để đảm bảo cho các khoản vay hay các đợt phát hành tiền giấy của mình. Điều này có nghĩa là đồng đô-la sẽ chỉ có thể được dùng để đổi lấy đồng đô-la mà thôi. Toàn bộ các hoạt động hối đoái còn lại đều dựa trên thực tế là đồng đô-la Mỹ được chấp nhận như đồng tiền cơ bản của thế giới.
Ngân hàng trung ương Châu Âu
Ngân hàng trung ương Châu Âu, European Central Bank – ECB, được thành lập vào năm 1998. Ngân hàng trung ương Châu Âu ra đời thay thế cho Cơ quan tiền tệ Châu Âu (European Monetary Institute – EMI), tổ chức được thành lập nhằm chuẩn bị cho sự ra đời của đồng tiền chung Châu Âu vào năm 1999.
Mục tiêu chung của ECB là đảm bảo tăng trưởng kinh tế và duy trì sự ổn định giá cả của khu vực đồng Euro bằng cách đảm bảo tỷ lệ lạm phát dưới mức 2%. Tuy nhiên, Ngân hàng trung ương Châu Âu còn có một số đặc thù khác so với Hệ thống dự trữ Liên bang Hoa Kỳ. ECB kiểm soát tỷ lệ lạm phát để nó chỉ luôn ở gần mức 2% một năm, ngoài ra nó còn phải đảm bảo rằng đồng euro không trở nên quá mạnh nhằm tránh ảnh hưởng xấu tới xuất khẩu bởi nền kinh tế của rất nhiều nước trong khu vực đồng Euro dựa chủ yếu vào hoạt động này.
Các quyết định liên quan tới chính sách tiền tệ, bao gồm quyết định mức lãi suất cơ bản, nằm trong tay Hội đồng thống đốc và Ban điều hành của ECB. Hội đồng thống đốc bao gồm sáu thành viên trong đó có Thống đốc và phó Thống đốc. Ban điều hành bao gồm các thành viên trong ban giám đốc và thống đốc của tất cả các ngân hàng trung ương của các quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu. Theo thông lệ, bốn trong số sáu thành viên hội đồng thống đốc đều là đại diện của bốn ngân hàng trung ương lớn, bao gồm ngân hàng trung ương Pháp, Đức, Italy và Tây Ban Nha. Các cuộc hội họp diễn ra hai lần mỗi tuần, nhưng chúng thường diễn ra một cách hình thức và không đi đến quyết định nào. Cuộc họp quyết định mức lãi suất cơ bản diễn ra một lần mỗi tháng. Đây là một trong những sự kiện kinh tế quan trọng và thu hút sự chú ý theo dõi của tất cả các thành phần tham gia thị trường Ngoại hối. Sau khi nó kết thúc, một cuộc họp báo sẽ được tổ chức, thống đốc ECB khi đó sẽ giải thích cụ thể lý do cơ quan này đưa ra các quyết định về lãi suất, đồng thời dự báo tình hình chung cũng như các xu hướng của nền kinh tế các quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu.
ECB theo đuổi chính sách tiền tệ bảo thủ. Việc lãi suất cơ bản của đồng euro thay đổi rất chậm trong lịch sử của nó đã chứng minh điều đó. Ví dụ, lãi suất cơ bản chỉ thay đổi có bốn lần trong suốt cuộc suy thoái kinh tế diễn ra vào năm 2001, và ECB đã phải hứng chịu rất nhiều lời chỉ trích từ phía các chuyên gia kinh tế vì việc đó. Cũng cần lưu ý rằng ECB không muốn việc công bố lãi suất cơ bản trở thành sự ngạc nhiên đối với công chúng; ngược lại, nó luôn muốn mọi người hiểu tính chất của những thay đổi trong tương lại trước khi tiến đến việc chính thức công bố những thay đổi này.
Trên 500 tỷ euro dự trữ bao gồm cả dự trữ vàng nằm dưới quyền kiểm soát của ECB. Cựu thống đốc Ngân hàng trung ương Pháp Jean-Claude Trichet đã thay thế đại diện của Đức Wim Duisenberg để trở thành Thống đốc đương nhiệm của Ngân hàng trung ương Châu Âu kể từ tháng Mười Một năm 2003.
Ngân hàng Anh
Mục tiêu chính của Ngân hàng Anh (Bank of England – BoE) là duy trì sự ổn định và sức mua của đồng nội tệ. Giá cả ổn định và niềm tin vào đồng nội tệ chính là hai tiêu chuẩn quan trọng nhất của sự ổn định tiền tệ, Sự ổn định giá cả được đảm bảo bởi thực tế là tỷ giá do Ủy ban chính sách tiền tệ của Ngân hàng Anh quyết định, tùy theo mức độ lạm phát và chúng tăng theo các mức do chính phủ đặt ra. Tỷ lệ lạm phát có thể chấp nhận được là xấp xỉ 2%.
Ngân hàng Anh được điều hành bởi Hội đồng thống đốc bao gồm một thống đốc, hai phó thống đốc, và 16 giám đốc thành viên. Tất cả đều được bổ nhiệm bằng một Sắc lệnh Hoàng gia sau khi đã được xem xét thông qua. Thống đốc và hai phó thống đốc được có nhiệm kỳ là 5 năm, và các thành viên khác được có nhiệm kỳ là 3 năm. Tất cả đều có thể được bổ nhiệm lại nhiều lần sau khi kết thúc một nhiệm kỳ.
Hội đồng thống đốc phải nhóm họp ít nhất một lần một tháng. Việc quản lý hệ thống ngân hàng, trừ các vấn đề về chính sách tiền tệ đều thuộc phạm vi công việc của Hội đồng thống đốc. Ủy ban chính sách tiền tệ (Moneytary Policy Committee – MPC) chịu trách nhiệm về các vấn đề liên quan đến chính sách tiền tệ.
Thống đốc ngân hàng Anh cũng đồng thời là người đứng đầu ủy ban này. Các thành viên khác được chọn ra từ những nhà kinh tế học có danh tiếng chứ không phải nhân viên của Ngân hàng. Ủy ban chính sách tiền tệ chịu trách nhiệm xác định các mức lãi suất chính thức kể từ năm 1997.
Mervyn King hiện là thống đốc Ngân hàng Anh. Quyết định về mức lãi suất cơ bản được đưa ra thông qua việc công bố kết quả bỏ phiếu. Ví dụ, kết quả bỏ phiếu được công bố là 7:2 có nghĩa là 7 thành viên đồng ý thay đổi lãi suất cơ bản còn 2 thành viên còn lại không đồng ý. Kết quả bỏ phiếu cho thấy quan điểm của các thành viên Ủy ban. Sự thay đổi về tỷ lệ các thành viên ủng hộ và phản đối sẽ cho thấy xu hướng của những thay đổi lãi suất trong tương lai. Chính sách quản lý thành công của Ngân hàng trung ương Anh còn được được nhắc đến với cái tên Goldilocks (chỉ mọi thứ đều vừa và đủ) (ý nói các chính sách quản lý kinh tế cho phép tăng trưởng đều đặn cùng với tỷ lệ lạm phát thấp và môi trường kinh doanh thuận lợi). Đây chính là yếu tố quan trọng nhất đóng góp vào thành công của giai đoạn phát triển kinh tế ổn định bắt đầu từ năm 1993 đến nay – quãng thời gian dài nhất trong hai thế kỷ qua. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Vương quốc Anh đã bỏ xa các quốc gia thuộc khu vực đồng Euro trong suốt mười năm qua và một đồng bảng mạnh là minh chứng rõ ràng nhất cho điều đó.
Ngân hàng trung ương Nhật Bản
Nền kinh tế Nhật Bản dựa rất nhiều vào xuất khẩu. Việc tỷ giá đồng nội tệ quá cao và vẫn tiếp tục tăng lên nhanh chóng là mối quan tâm rất lớn của quốc gia này bởi tác động tiêu cực của nó lên hoạt động xuất khẩu. Đó là lý do tại sao Ngân hàng trung ương Nhật Bản (Bank of Japan – BoJ) lại sử dụng chính sách can thiệp trực tiếp hết lần này đến lần khác để kiềm chế tỷ giá đồng yên (Ngân hàng này bán đồng yên ra thị trường để thu về đô-la Mỹ và euro). Ngân hàng Nhật Bản cũng thực hiện chính sách can thiệp thông qua các phát ngôn, các quan chức cấp cao của Nhật Bản luôn tuyên bố rằng đồng Yên đang có giá trị quá cao, và những tuyên bố như vậy luôn là một dấu hiệu rõ ràng đối với các định chế và cá nhân tham gia thị trường Ngoại hối. Sự can thiệp bằng phát ngôn của các quan chức, dù không đi đôi với hành động nhưng cũng có ảnh hưởng rất lớn tới thị trường.
Chừng nào điều lệ của Ngân hàng trung ương Nhật Bản còn ghi rõ rằng nó cần phải đảm bảo sự ổn định giá cả cũng như toàn bộ hệ thống tài chính, mục tiêu chính của nó vẫn sẽ là giảm lạm phát. Cuộc khủng hoảng bất động sản những năm 1990 đã buộc Ngân hàng này phải cắt giảm lãi suất cơ bản tới mức thấp kỉ lục 0.15%. Đây chính là chính sách vẫn thường được gọi là lãi suất bằng không mà Ngân hàng Nhật Bản vẫn theo đuổi cho tới nay. Người ta tin rằng Nhật Bản sẽ từ bỏ chính sách lãi suất bằng không này ngay khi nền kinh tế Nhật Bản khôi phục lại được tốc độ tăng trưởng bình thường. Chính sách lãi suất bằng không đã tiếp diễn trong năm năm liên tục, nhưng vào tháng Ba năm 2006, nó tăng lên 0.5%. Ủy ban chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương Nhật Bản bao gồm 6 thành viên, không kể Thống đốc Masaaki Shiraka và hai phó Thống đốc, nhóm họp một hoặc hai lần mỗi tháng.
Ngân hàng Quốc gia Thụy Sĩ
Không giống các Ngân hàng trung ương khác, Ngân hàng quốc gia Thụy Sĩ (SNB) đặt ra một giới hạn trong đó lãi suất cơ bản có thể biến động trong từng trường hợp cụ thể thay vì đưa ra một mức lãi suất cố định. Ngân hàng Quốc gia Thụy Sĩ theo đuổi chính sách bảo thủ đối với vấn đề tăng lãi suất do nền kinh tế Thụy Sĩ phụ thuộc rất nhiều vào xuất khẩu (đồng nội tệ mạnh không có lợi cho các nhà xuất khẩu). Mục tiêu chính thức của Ngân hàng này là đảm bảo ổn định giá cả và tăng trưởng kinh tế. Thống đốc Ngân hàng hiện tại là Jean-Pierre Roth. Hội đồng điều hành của Ngân hàng gặp nhau một lần mỗi quý để thảo luận về chính sách tiền tệ.
Ngân hàng trung ương Canada
Ban giám đốc của Ngân hàng trung ương Canada, Board of Directors – BoC, bao gồm Thống đốc David Dodge và năm phó Thống đốc. Các nhân vật này nhóm họp tám lần một năm để thảo luận và đưa ra quyết định liệu có thay đổi chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương hay không. Năm 1998, Ngân hàng này đặt mục tiêu đảm bảo lạm phát ở trong khoảng từ 1 đến 3% đồng thời đảm bảo sự ổn định của đồng nội tệ. Điều này có nghĩa là tỷ lệ lạm phát cao hay thấp hơn mục tiêu đề ra sẽ dẫn tới việc tăng hoặc giảm lãi suất cơ bản.
Ngân hàng dự trữ Australia
Không giống các ngân hàng trung ương khác, mục tiêu của Ngân hàng trung ương Australia, Reserve Bank of Australia – RBA bao gồm nhiều nội dung hơn, đó là đảm bảo sự ổn định của đồng nội tệ, việc làm đầy đủ cho công dân, tăng trưởng kinh tế, và đảm bảo sự thịnh vượng về mặt kinh tế của quốc gia. Để đạt được các mục tiêu đó, Ngân hàng này kiểm soát tỷ lệ lạm phát trong khoảng 2-3%.
Ủy ban chính sách tiền tệ của Ngân hàng dự trữ Australia bao gồm thống đốc Ngân hàng Glen Steevens, Phó thống đốc, Bộ trưởng bộ Tài chính (tương đối khác biệt và không phải thông lệ tại các quốc gia khác) và sáu thành viên đại diện cho phe đa số trong Quốc hội do Chính phủ chỉ định. Ủy ban này nhóm họp 11 lần một năm (vào thứ Ba đầu tiên hàng tháng trừ tháng Một)
Ngân hàng dự trữ New Zealand
Không giống các ngân hàng trung ương khác, quyết định về lãi suất cơ bản tại Ngân hàng dự trữ New Zealand do một mình thống đốc đưa ra chứ không phải là quyết định của tập thể. Thống đốc hiện thời của Ngân hàng này là Alan Bollard. Tuy nhiên, bản thân quyết định này được đưa ra sau cuộc họp của Ban điều hành. Cơ quan này nhóm họp 8 lần một năm. Mục tiêu của Ngân hàng là đảm bảo tỷ lệ lạm phát trong giới hạn 1.5%. Đó là lý do vì sao trong suốt thời kì nền kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ, Ngân hàng này buộc phải tăng lãi suất cơ bản lên mức 8.25%. Việc này giúp kiềm chế tỷ lệ lạm phát ở một mức độ nhất định và cắt giảm thâm hụt tài khoản vãng lai, tuy nhiên, việc này cũng làm tỷ giá đô-la New Zealand tăng nhanh do sự khác biệt về lãi suất và hoạt động đầu cơ chênh lệch lãi suất (carry trade).
Rõ ràng, mục tiêu chính của mỗi ngân hàng trung ương là kiềm chế lạm phát ở một giới hạn đã định trước. Nếu nó vượt quá giới hạn ngân hàng trung ương sẽ thắt chặt chính sách tiền tệ và nâng lãi suất cơ bản lên, còn nếu tỷ lệ lạm phát thấp, điều thường xảy ra vào các thời kì kinh tế bị đình trệ, ngân hàng trung ương sẽ giảm lãi suất để kích thích đầu tư và phát triển kinh tế.
Các quỹ đầu tư
Rất nhiều tổ chức, công ty bảo hiểm, quỹ lương hưu và các quỹ đầu tư bảo hiểm rủi ro tham gia vào hoạt động đầu tư và đầu cơ theo nhiều cách khác nhau trên thị trường Ngoại hối. Ví dụ, quỹ Quantum của tỷ phú George Soros là một trong những quỹ đầu tư năng động nhất trên thị trường này. Các tổ chức này cũng bao gồm cả các tập đoàn quốc tế thường đầu tư vào nhiều quốc gia khác nhau bằng cách thành lập chi nhánh, công ty con hay mở rộng sản xuất ra ngoài lãnh thổ một quốc gia, v.v)
Các ngân hàng thương mại
Thực tế, việc xử lý tất cả các giao dịch ngoại hối đều được thực hiện bởi các ngân hàng thương mại. Điều này giải thích lý do vì sao ta gọi thị trường Ngoại hối là thị trường tiền tệ liên ngân hàng. Các thành phần tham gia vào thị trường đều tương tác với nhau thông qua ngân hàng theo cách này hay cách khác. Phần lớn các tổ chức thanh toán bù trừ đều là chính các ngân hàng hoặc chi nhánh của chúng. Các ngân hàng quốc tế như Citibank, Barclays Bank, Deutsche Bank, Union Bank of Switzerland và nhiều cái tên khác nữa xử lý các giao dịch trị giá hàng trăm triệu đô-la mỗi ngày. Bên cạnh đó, các ngân hàng cũng thực hiện các giao dịch ngoại hối vì lợi nhuận của chính mình. Các nhân viên thuộc bộ phận chuyên trách của ngân hàng theo dõi các xu hướng của thị trường, đưa ra dự báo và quản lý trạng thái ngoại tệ của ngân hàng mình. Dù các ngân hàng đều có chính sách quản lý rủi ro rất chặt chẽ, họ vẫn tham gia vào các hoạt động đầu cơ ngoại tệ
Các nhà môi giới (Brokers)
Chức năng của các nhà môi giới là cung cấp cho khách hàng của họ cơ hội giao dịch trên thị trường Ngoại hối, ví dụ như đảm bảo việc thực hiện lệnh nhanh chóng và chính xác một cặp tiền tệ nào đó theo giá thị trường. Một công ty môi giới không giao dịch để thu lợi nhuận trực tiếp cho mình bởi nó chỉ là đơn vị trung gian, không chịu các rủi ro về thay đổi tỷ giá. Nó tìm kiếm lợi nhuận nhờ chênh lệch giữa giá mua và giá bán (spread). Hiện nay trên thị trường có rất nhiều công ty môi giới, việc cạnh tranh giữa họ với nhau góp phần làm tăng chất lượng dịch vụ cung cấp cho các nhà đầu tư (chương “Làm thế nào để chọn nhà môi giới? sẽ làm rõ điều này)
Các nhà đầu tư cá nhân
Các nhà đầu tư vừa và nhỏ không thể trực tiếp tham gia thị trường Ngoại hối mặc dù trên thực tế họ có thể dùng đòn bẩy với tỷ lệ rất cao (1:50, 1:100 hoặc hơn nữa). Tất cả hoạt động của họ đều được thực hiện thông qua các ngân hàng và các nhà môi giới, những tổ chức này lại là khách hàng của các tổ chức thanh toán bù trừ. Các nhà đầu tư cá nhân luôn phải giao dịch thông qua trung gian.
hoacattuong
Nếu ngồi trước màn hình máy tính chỉ là một chú khỉ và chú ta đã học được cách ấn vào các phím khác nhau để thực hiện lệnh Bán và Mua trên thị trường Ngoại hối thì cơ hội để chú ta kiếm lời là 50/50.
Tuy nhiên, do luôn luôn có sự khác biệt giữa giá mua và giá bán trong tất cả các giao dịch nên trong dài hạn, kết quả mà chú khỉ này có được vẫn sẽ chỉ là thua lỗ cho dù 50% các giao dịch ngẫu nhiên mà chú ta thực hiện là đúng đắn. Vậy thì tại sao, trong một sòng bạc, nơi mà cơ hội thắng cũng là gần 50/50, các tay chơi lại chỉ lấy lại được 30% tổng số tiền mà họ đã nướng vào đó? Đơn giản là vì mỗi người trong số họ chỉ có một số tiền hữu hạn nào đó và sẽ rời bỏ cuộc chơi khi thua lỗ. Hoặc, khi thắng được một lần, họ lại có xu hướng muốn mạo hiểm để thắng lớn hơn và tiếp tục chơi cho đến khi thua hết sạch.
Điểm khác biệt cơ bản của đầu tư so với cá cược chính là khả năng dự báo được các sự kiện diễn ra trên thị trường và biết cách áp dụng chúng vào trong giao dịch. Trên các thị trường tài chính luôn luôn sẵn có những công cụ phân tích giúp nhà kinh doanh hiểu được điều gì đang diễn ra trên thị trường để áp dụng chiến lược kinh doanh phù hợp.
Vậy thì tại sao phần lớn các nhà kinh doanh khi mới bắt đầu đều gặp thất bại? Yếu tố tâm lý kết hợp với sự thiếu hiểu biết về tâm lý thị trường thường dẫn đến tình trạng nhà kinh doanh không nhận ra rằng chính mình đang bị ảnh hưởng bởi điều này, và đang đi lạc khỏi chiến lược kinh doanh ban đầu. Khi đó, họ thường có xu hướng giao dịch với rủi ro cao và cuối cùng là chịu thua lỗ lớn. Rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng con người luôn có xu hướng đánh giá quá cao khả năng của bản thân. Các nhà kinh doanh cá nhân cũng vậy, họ không có đối trọng nào để làm cơ sở so sánh và đánh giá chính mình. Họ sẽ luôn luôn tìm ra lý lẽ để biện minh cho quan điểm của bản thân, bất kể nó đúng hay sai. Kết quả là họ phải trả giá cho những sai lầm của mình. Thị trường luôn luôn biến động, và những ai không biết tự điều chỉnh mình để thích nghi với những biến động đó tất yếu sẽ phải chịu thua thiệt.
Mặc dù có những điểm khác nhau cơ bản, giữa đầu tư và cá cược vẫn có một điểm chung, đó là tính chất quyết định của yếu tố thời điểm: khi đã quyết định sẽ mua vào một ngoại tệ nào đó, bạn có thể thực hiện giao dịch ngay hoặc là chờ đợi với hy vọng có được giá tốt hơn. Tuy nhiên, thường thì quá trình chờ đợi sẽ khiến bạn phải trả giá cao hơn, và bạn lại phải lựa chọn giữa việc mua vào với giá đó hay là tiếp tục chờ đợi. Chính vì thế, việc không để bị yếu tố may rủi trong giao dịch kéo đi quá xa là rất quan trọng với nhà kinh doanh. Chiến lược vẫn luôn cần được đặt lên hàng đầu.
Sòng bạc, nơi thường được nhiều người liên tưởng đến khi nghĩ về thị trường ngoại hối, thực chất chỉ là việc thực hiện một loạt phép toán xác suất với kỳ vọng âm và là một trò chơi thực sự theo nghĩa đen của từ đó. Thị trường Ngoại hối thì không giống như vậy, nó cho phép người tham gia thu thập dữ liệu và sau đó ra quyết định dựa trên những thông tin thu được mà những thông tin này chắc chắn có ảnh hưởng tới khả năng thành công của họ. Việc phân biệt giữa trò chơi may rủi và đầu tư thực ra dễ hơn bạn tưởng rất nhiều. Hãy cố gắng trả lời ba câu hỏi sau:
1.Bạn có chiến lược kinh doanh khi tham gia thị trường hay không?
2.Bạn đã thử áp dụng chiến lược đó trên thị trường thực với một số tiền đầu tư thực chưa?
3.Bạn có đủ vốn để tiếp tục theo đuổi chiến lược kinh doanh của mình không?
Một nhà đầu tư chắc chắn sẽ trả lời “có” với cả ba câu hỏi này. Nếu câu trả lời của bạn cho bất kỳ câu hỏi nào ở trên là “không” thì có nghĩa là bạn vẫn chưa thực sự chuyển từ vị thế một người chơi cá cược sang một nhà đầu tư. Hãy nghĩ về một câu hỏi tương tự: xe ô tô đối với bạn là một thứ đồ chơi hay phương tiện đi lại. Câu trả lời còn tùy thuộc vào bản thân bạn phải không. Kinh doanh trên thị trường Ngoại hối có thể là một trò chơi thú vị, nhưng cũng có thể là một công cụ đắt giá để bất kỳ ai khẳng định bản thân mình.
Vậy thì, câu trả lời cuối cùng của tôi cho câu hỏi đặt ra từ đầu chương này là: “Tốt nhất bạn nên chơi cá cược ở sòng bài và đầu tư trên thị trường Ngoại hối”.
Theo AMcenter.vn
hoacattuong
Trích Nguyên văn bởi forexngo Xem bài viết
Đây là lần đầu tiên tôi post bài tự sự như thế này lên diễn đàn. Thật sự khi đọc những tranh luận của các bạn tôi thật sự thấy CƯỜI RA NƯỚC MẮT. Sau khi trăn trở, tôi quyết định viết đôi dòng suy nghĩ và bình luận của mình(những gì tôi đã thật sự TRÃI NGHIỆM), hy vọng chia sẽ được ít nhiều với các bạn về thị trường này.
TỰ SỰ :
Bản thân tôi chính thức bước vào nghiệp trader kể từ năm 2005, kể từ đó cuộc sống chuyển sang bước ngoặc mới và thay đổi nhanh chóng.
Sau 8 năm đi làm miệt mài, tích góp một số vốn và kinh nghiêm, bắt đầu khởi nghiệp năm 2000…công việc làm ăn phát đạt cho tới năm 2005, trong tay tôi có thể nói đã tạo dựng được đầy đủ nhà cửa, xe hơi, tiền bạc…một cuộc sống thật TUYỆT VỜI.
Nói về lĩnh vực tài chính nói chung, và giao dịch chứng khoán, tiền tệ, hàng hóa nói riêng….là những sở thích đam mê bắt đầu từ năm 1996. Và kể từ 1998, khi Việt nam bắt đầu có internet, tôi may mắn được tiếp cận internet và tìm tòi học hỏi về các thị trường chứng khoán, futures, options, forex thông qua mạng internet. FA & TA càng đọc, càng học…càng say mê. Ít nhất là 12h/24h tôi ngồi trên máy để đọc….suốt mấy năm liền.
Năm 2005, nghĩ là mình đã học, đã đọc và đã biết nhiều…..tôi đã mạnh dạng mở tài khoản đầu tiên (20k), sau 5 ngày…..cháy. Cay cú, nạp thêm tiền và nghĩ rằng do mình …TÂM LÝ YẾU…vì lệnh thắng nhiều hơn mà. Lần này kéo dài được gần 2 tuần, với tỷ lệ thắng thua 8/2…kết quả chỉ còn lại $2,700 trong tài khoản/ tổng số tiền $38,000.
Quyết tâm đóng tài khoản, mở tài khoản mới. đăng ký thêm những lớp học online, mua EA, mua chiến lược, mua sách….tất cả những gì có thể phục vụ cho mục đích vừa để trade thành công, vừa học để trở thành TRADER CHUYÊN NGHIỆP.
Công việc kinh doanh bỏ bê, công trình đang thực hiện bỏ bê, cơ sở sản xuất bỏ bê…giao lại toàn bộ cho nhân viên…..cho tới cuối năm 2006……số tiền vay để bỏ vào fx đã hơn 250K.
Trang trại nuôi trồng thất bại, khách hàng mất, công trình không đòi được nợ……………Bán xe, bán trang trại, thu hẹp xưởng sản xuất……..Dồn tiền tập trung vào công trình, vào sản xuất..nhưng quá muôn rồi…………..năm 2008, thật sự rơi vào khó khăn….căn nhà 300m2 trị giá hơn 10 tỷ vào cuối năm 2007……không đáng giá hơn 4 tỷ bạc năm 2009.
Kết cục do đâu ? Do Fx 1 phần, nhưng hệ lụy của FX mới là lớn.
Nhưng tại sao do Fx ? chính hơn là do mình, và có thể nói sau thời gian cay cú vì thua trong fx, mong muốn gỡ lại càng nhiều càng tốt, tôi đãcố gắng tìm hiểu nguyên nhân vì sao mình thua, trong khi tỷ lệ thắng nhiều hơn?........Và sau đó tôi đã mỉm cười, không còn cay cú như lúc trước nữa……………Các biết tại sao không ? đó là tất cả do quan niệm sai lầm của mình, do tính tham lam thiếu cơ sở, do trade vô tổ chức, thiếu tính kiên nhẫn, và sau cùng và trên hết là……làm việc trong lĩnh vực đầy rủi ro mà lại thiếu kỹ năng QUẢN LÝ VỐN.
Nói đến vấn đề thế nào là nên kiên nhẫn, thế nào là nên có kỷ luật, thế nào là quản lý vốn….có lẽ đã nghe nhắc đến nhiều, trader nào cũng nghe nói và biết…..nhưng để hiểu được và áp dụng được nó là một quá trình và quá trình đó hoàn toàn liên quan tới ‘SỰ TRÃI NGHIỆM’ và từ đó mới có thể nói tới hai từ ’TÂM LÝ’ trong trading.
Và để nói rõ những vấn đề này, để các bạn có thể cùng trãi nghiệm, tôi sẽ tiếp tục phục vụ các bạn bằng những bài viết cụ thể cho từng kỹ năng mà các bạn cần phải có để thành công trong nghiệp trading(không phải làm giàu).

VẤN ĐỀ VỀ NHÀ ĐẦU TƯ & CÁI GỌI LÀ’NHÂN VIÊN TƯ VẤN’

GỌI LÀ’NHÂN VIÊN TƯ VẤN’ :

Hôm trước có dịp tình cờ tiếp xúc một anh bạn trẻ(chắc tầm 8x) cũng không biết và không hiểu anh ta tham gia trong lĩnh vực này bao lâu và thành công thất bại như thế nào, nhưng nghe anh ta luyên thuyên nói là biết rất rành về thị trường này, đã đọc và biết hết tất cả ’tuyệt kỹ’ trên thế giới (vớ vẫn), nào là thuật toán này, mô hình kia…v.v…., tôi có hỏi nhỏ anh ta vậy anh ta đã đọc cuốn Price Patterns của Martin Pring chưa ? anh ta nói là hồi nãy giờ anh ta nói về Haramonic Patterns rồi còn gì ? (thật là nực cười). Kiểu cách tuyên bố là mình biết hết trong lĩnh vực này của anh ta, nếu xem như là cùng nghề trader với nhau, thì thật sự tôi cảm thấy thương xót cho anh ta, còn nói về quan hệ xã hội, tôi cho là anh này…bị ảo tưởng nặng.
Và đa số những bạn trẻ gọi là ‘tư vấn tài chính’ mà chúng ta nói đến, có lẽ các bạn cũng có niềm đam mê, khao khác thành công, muốn thể hiện mình……..nhưng cho phép nói một câu…các bạn quá liều lĩnh, liều hơn những gì ngoài tầm kiểm soát của chính mình. Mà chính cái liều tưởng như vô hại, chính cái suy nghĩ mà các bạn cho là các bạn đã biết nhiều…vô hình dung các bạn đã đánh mất mình và gây ra bao nhiêu hoàn cảnh dỡ khóc dỡ cười, nhà tan cửa nát, sự nghiệp tiêu tan(bản thân tôi đã biết và tiếp xúc hơn 16 trường hợp rơi vào hoàn cảnh như nhờ tư vấn trade giúp, để rơi vào cảnh cháy hay gần cháy tài khoản).
Và qua đây, với kinh nghiệm của mình trong lĩnh vực này, và những trãi nghiệm thất bại của chính bản thân mình, tôi cũng muốn có đôi lời với các bạn gọi là ’nhân viên tư vấn’ : Các bạn đừng bao giờ liều lĩnh ngoài tầm kiểm soát của chính mình. Các bạn có khát vọng, có niềm đam mê, vậy hãy thể hiện niềm đam mê đó bằng cách học hỏi thêm, học hỏi không ngừng để càng ngày càng thể hiện bản lĩnh và trí tuệ của cái gọi là ‘nhân viên tư vấn’.
TRADER SẼ KHÓ MÀ THÀNH CÔNG CHỈ BẰNG NHỮNG CHỈ SỐ, CHỈ BẰNG NHỮNG MÔ HÌNH MÀ CÁC BẠN CHO LÀ MÌNH BIẾT(mặc dù giữa biết và hiểu để ứng dụng hoàn toàn một trời một vực). ĐIỀU QUAN TRỌNG LÀ TRADER TƯ HỎI MÌNH ĐÃ THẬT SỰ HIỂU VỀ THỊ TRƯỜNG CHƯA ?
Và cụ thể hơn, các bạn đừng bao giờ trade giúp cho những tài khoản có giá trị lớn hơn số tiền thu nhập của các bạn hàng tháng. Và nếu có lỡ vào lệnh gây nguy hiểm cho tài khoản khách hàng, thì cố gắng giúp đỡ họ bằng mọi giá có thể, đừng nên đem vấn đề của người từng nuôi sống cho mình và nuôi sống cho cả công ty của mình ra bêu rếu, cười đùa, đó là hành động có thể nói là …….VÔ ĐẠO ĐỨC VÀ VÔ ƠN. Mà nếu có 2 cái ‘VÔ’ này thì tốt nhất nền tránh xa lĩnh vực có liên quan tới tài chính.
Và khi vào lệnh, nhớ có target và STOPLOSS.
Nói đến vấn đề STOPLOSS và TÂM LÝ trong trading, tôi sẽ có bài phân tích rõ hơn.


NHÀ ĐẦU TƯ :
Tôi cũng có dịp đọc được một số bài quảng cáo trên mạng, là chiến lược này, chiến lược kia…đem lại thu nhập hơn 10%/tháng. Tài khoản 5k, sau 1 tháng thành 17k(chúc mừng chiến lược của bạn rất thành công và cũng đáng trách cho lời quảng cáo của bạn - nếu bạn là 1 trader thực thụ).
Lý do ? Tôi sẽ có bài phân tích cặn kẽ lý do tại sao.
Ông bà ta có câu ‘tiên trách kỷ, hậu trách nhân’ và hoàn toàn đúng như vậy đối với các nhà đầu tư đang bị thua lỗ, cháy tài khoản khi nhờ cái gọi là ’nhân viên tư vấn’ trade giúp.
Tiền tài sự nghiệp của các vị đã dễ dàng trao vào tay những người non về tuổi đời lẫn tuổi nghề một cách quá dễ dãi.
Rõ ràng các vị là những người lớn tuổi, có sự thành công nhất định trong xã hội với kinh nghiệm sống phong phú nên mới có những khoản tiền lớn như vậy để đầu tư. Nhưng rất tiếc, sự đầu tư lần này của các vị đã tính toán sai, phạm một sai lầm nghiêm trọng, hớ hênh đáng trách.
Với kinh nghiệm sống và sự từng trãi của mình, các vị có tin là có lĩnh vực đầu tư đem lại lợi nhuận lớn hơn 20% đều đều mỗi tháng mà không tiềm ẩn rủi ro cao bằng hoặc cao hơn số tiền kỳ vọng kiếm được ? và khoản đầu tư của mình, hay có thể nói là gia sản của mình lại đầu tư quá dễ dãi.
Do đó, nếu đam mê lĩnh vực này, có lẽ các vị nên tìm hiểu sâu hơn và tự mình quyết định các hạng mục đầu tư cho chính mình.
NẾU BÂY GIỜ MỘT AI ĐÓ HỎI TÔI ‘ TRADE CÓ DỄ KHÔNG ?’, TÔI CÓ THỂ THẲNG THẮNG TRẢ LỜI ‘TRADE RẤT DỄ’
CÒN NẾU HỎI TÔI ‘TRADE LÀM GIÀU ĐƯỢC KHÔNG’, TÔI CŨNG CÓ THỂ TRẢ LỜI ‘ĐƯỢC VÀ RẤT ĐƯỢC, NHƯNG TỐT HƠN HẾT LÀ QUA CASINO……SẼ KÉO DÀI HƠN THỜI GIAN’
VÀ SAU CÙNG, TÔI ĐÚC KẾT LẠI MỘT CÂU LÀ TRADE KIẾM SỐNG THÌ ĐƯỢC VÀ TRADE CŨNG RẤT DỄ, VỚI ĐIỀU KIỆN…………………….
Chào Bác Forexngo,
Những bài học trên quả thật là quý báo đối với các bạn mới tham gia như em. Nhưng thật ra e nghĩ trước khi tham gia tài khoản thực tốt nhất nên mở tài khoản demo, tập làm quen, tìm hiểu các kiến thức về forex trước sau đó hả xông vào trận. Lý thuyết là vậy nhưng thực tế ai cũng thích thực tế trước )
hoacattuong
Hi cả nhà,
Các bác có nghe đến chuyện sử dụng Kinh Dịch đầu từ trong Forex chưa? Em cũng mới nghe thấy lạ ghê @[email protected] Bác nào biết thì vui lòng nói em biết với nha.
hoacattuong
Cá tính của bạn sẽ quyết định thái độ của bạn đối với tiền bạc. Bạn đã bao giờ nghĩ bạn quản lý tài chính cá nhân của mình như thế nào và nó ảnh hưởng thế nào đến các quyết định giao dịch của bạn chưa? Mọi người có thái độ rất khác nhau đối với tiền bạc, và điều này sẽ quyết định tâm lý của họ trong đầu tư.
Việc cố gắng tạo ra những thay đổi lớn trong tính cách của bản thân là điều khá khó khăn, thế nhưng bạn có thể thử thay đổi một chút quan điểm của mình về tiền bạc.
Nhà tâm lý học Lisa Smith đã phân loại thái độ của con người đối với tiền bạc như sau:
Những người chi tiêu hoang phí không thể tưởng tượng nổi cuộc sống của họ sẽ ra sao nếu không có những chiếc xe đắt tiền, đồ dùng mới, quần áo hàng hiệu…..Họ không bao giờ tìm kiếm những món đồ giảm giá, họ ăn mặc theo mốt thời thượng, và luôn muốn tạo ấn tượng. Họ luôn hướng tới những thứ tốt nhất: điện thoại cầm tay tiên tiến nhất, tivi màn hình phẳng rộng nhất, biệt thự bên bờ biển……..Họ dễ dàng tiêu những khoản tiền lớn, họ không sợ rơi vào nợ nần, và khi đầu tư họ chấp nhận rủi ro cao để có lợi nhuận lớn.
Những người tiết kiệm đối lập hoàn toàn với mẫu người trên. Họ rất tằn tiện. Họ luôn tắt hết đèn khi ra khỏi phòng và đóng nhanh cửa tủ lạnh để hơi lạnh không kịp thoát ra ngoài. Họ chỉ mua sắm những thứ đắt tiền nếu chúng thực sự cần thiết và cố gắng không bao giờ nợ nần. Thường thì kiểu người này hơi hà tiện. Những xu hướng thời trang mới nhất không có nghĩa lý gì với họ và họ vui vẻ ngắm nhìn tài khoản của mình trong nhà băng tăng lên mỗi ngày. Họ là những nhà đầu tư bảo thủ luôn cố gắng giảm thiểu rủi ro.
Những tín đồ mua sắm luôn bị các cửa hiệu quyến rũ, họ vui thích khi được tiêu tiền. Nếu họ đi mua sắm thì chắc chắn họ sẽ mua thứ gì đó. Họ cũng thường hay rơi vào cảnh nợ nần nhưng mặt khác, họ hiểu rằng không cần thiết phải tiêu quá nhiều tiền vào việc mua sắm. Họ cố gắng tìm kiếm những món đồ được giảm giá và cảm thấy thỏa mãn khi có được chúng. Nói về đầu tư, họ là những người khá thoải mái về tư tưởng và có thể hành xử rất khác nhau.
Những con nợ tiêu tiền không phải để thỏa mãn sự vui thích của bản thân. Nhìn chung họ ít nghĩ về tiền bạc, không bao giờ giữ các hóa đơn mua hàng, cũng chẳng bao giờ mở tài khoản. Thế nhưng thường thì các khoản chi tiêu của họ lại vượt quá so với thu nhập và họ hay rơi vào nợ nần. Kiểu người này không hứng thú với đầu tư.
Những nhà đầu tư thì luôn nghĩ về số vốn mình có. Họ luôn hiểu tình trạng tài chính của mình và cố gắng kiếm lời từ những nguồn lực có sẵn. Họ sẵn sàng hoãn chi tiêu ngày hôm nay để có được nguồn thu nhập trong tương lai. Họ luôn lường trước những tình huống có thể xảy ra và không sợ rủi ro nếu đó là điều thực sự cần thiết.
Đến đây bạn có thể tự hình dung về bản thân. Hãy nghĩ đến việc làm cách nào tận dụng những nguồn tiền bạn có để khiến chúng sinh sôi. Có thể bạn sẽ cần phải từ bỏ một vài ham muốn và cố gắng lên kế hoạch chi tiêu sát sao hơn. Đôi khi chỉ một chút thay đổi trong thái độ của bạn cũng sẽ mang lại những kết quả tích cực có thể nhìn thấy được.
Tôi muốn đưa ra một vài lời khuyên đối với từng nhóm người theo phân loại ở trên.
Những người chi tiêu hoang phí, hãy tiết kiệm!
Nếu bạn đã muốn mua sắm thì không ai có thể ngăn cản bạn, nhưng hãy nghĩ về tương lai một chút – bạn có thể sử dụng số tiền mình đang có một cách hiệu quả hơn. Hãy đầu tư và lên kế hoạch cho chi tiêu của bạn trong một khoảng thời gian nhất định. Hãy tìm kiếm những khoản lợi nhuận nhỏ thôi nhưng ổn định, đừng cố làm gì vội vàng dẫn đến thua lỗ!
Những người tiết kiệm, hãy hành động hợp lý!
Ben Franklin từng nói: “Để thành công hãy cần bằng mọi thứ”. Đây là một lời khuyên tốt đối với kiểu người này. Đừng bỏ lỡ những giây phút đẹp nhất cuộc đời chỉ để tiết kiệm một vài đồng tiền nhỏ. Giảm thiểu rủi ro là một yếu tố rất quan trọng đối với nhà đầu tư, nhưng cũng đừng quên đi lý do mà vì nó bạn tiến hành đầu tư!
Những tín đồ mua sắm, đừng tiêu tiền mà bạn không có!
Hãy kiểm soát chi tiêu của bạn. Khi đầu tư, hãy theo dõi sát sao số dư tài khoản giao dịch. Trước khi mở một trạng thái mới hãy nghĩ xem liệu bạn có đủ tiền để duy trì nó hay không và bạn có thể chịu được khoản lỗ bao nhiêu tại thời điểm đó.
Những con nợ, hãy nghĩ đến chuyện đầu tư!
Hãy nhìn vào những khoản chi tiêu và thu nhập của bạn, hãy lên một kế hoạch tài chính chi tiết và bắt tay vào việc đầu tư. Bạn có thể tìm kiếm sự giúp đỡ của người khác nếu gặp khó khăn. Bạn có thể chọn một nhà kinh doanh nào đó giúp bạn quản lý tiền, nhưng chỉ cân nhắc khả năng đó sau khi đã cân nhắc cả hai mặt tích cực và tiêu cực của vấn đề.
Những nhà đầu tư, chúc các bạn may mắn!
Chúc mừng các bạn! Hãy tiếp tục! Hãy hoàn thiện kỹ năng của mình! Bạn sẽ làm được điều đó!
Vậy thì, trước khi bắt đầu kinh doanh trên các thị trường tài chính, bạn phải hiểu được chính mình. Bạn không thể thay đổi tính cách, và cũng không cần làm thế. Hãy học cách thay đổi thái độ để đạt được kết quả tốt nhất.
Theo AMcenter
hoacattuong
Sao khi nghe về Kinh Dịch Ngũ Hành áp dụng trong đầu tư em định đi học thử về cái này. Sao e hỏi mà ko bác nào nói e nghe hết. Vậy em đi học ah nha. Có Bác nào cản e ko???????????
hoacattuong
Trích Nguyên văn bởi hgbhgb Xem bài viết
Mình có nghe nói, nhưng chưa được biết cụ thể như thế nào. Bạn đi học đi rùi về nói lại nha.
hihi để mình học rồi về nói thử cho bạn nghe Đang học được 1 bữa đầu rồi)
hoacattuong
Khi nào học xong em sẽ post nội dung bài giảng lên cho các bác thêm khảo nhá
hoacattuong
Trích Nguyên văn bởi phuonglam09 Xem bài viết
Chính xác, bạn rất ngạy bén về vấn đề, nhưng Bạn chỉ mới nhìn thấy một khía cạnh của vấn đề mà thôi. Hy vọng chủ topic sau khi hoàn thành khóa học sẻ có cái nhìn hoàn thiện và bao quát hơn
Tình hình là khóa học ngày 27/7 sẽ hoàn thành, nội dung ứng dụng ngũ hành rơi vô 2 ngày cuối. Các Bác yên tâm, e sẽ post bài giảng lên để các Bác chỉ dẫn thêm hihi
hoacattuong
Báo cáo các Bác là em đã hoàn thành khóa học và đã trở lại
Để em kể các bác nghe nha. Khóa học cũng đầy đủ lắm: phân tích cơ bản, phân tích lỹ thuật, quản lý tâm lý khi giao dịch và Ứng dụng Ngũ Hành trong đầu tư ( bữa em ko biết nên nói có Kinh dịch nữa , sorry cả nhà nha).
Các phần kia thì các bác cao tay quá rồi, còn phần Ứng Dụng Ngũ Hành thì em nói sơ qua các bác tham khảo nha ( em nói hay ko bằng giảng viên rồi)
Trong ngũ hành chia ra:

Kim -> Thủy -> Mộc -> Thổ -> Kim

Tùy vào những cung giờ, ngày, tháng, năm để tìm ra ngày giờ phù hợp để khởi sự

1 ngày chia là 5 cung giờ ứng với kim, mộc, thủy, hỏa, thổ sẽ phù hợp với 1 từng người.
Nay em nói sô vậy nha. Đang bận tí có gì mai em nói tiếp nha
Cám ơn các bác
hoacattuong
Để em nói tiếp nha!
1: Tân
2: Nhâm
3: Quý
4: Giáp
5: Ất
6: Bính
7: Đinh
8: Mêu
9: Kỷ
Ứng với từng năm tuổi của các bác qua đó mình sẽ tính ra mạng

[IMG] Uploaded with ImageShack.us[/IMG]

Mình có thể tính giờ nào phù hợp với mình, các bác sẽ thực hiện giao dịch tốt hơn.
hoacattuong
Em đọc được cái link này cũng thú vị, ko biết các Bác nhà ta có trade Forex say sưa vậy ko ta?

hoacattuong
Bác nì,
Còn chọc em nữa, to đỏ nữa mới ghê chứ:P
hoacattuong
Trích Nguyên văn bởi AGG Xem bài viết
Từ 1 đến 9 không thấy có Canh nhỉ?
Hihi,
sorry Bác em ghi thiếu
0: canh đó bác
hoacattuong
Trích Nguyên văn bởi fxhai Xem bài viết
Theo cách viết của bác thì em có thể hiểu là : tính giờ để KHỞI SỰ (bắt đầu)
Vậy bác có học được cách tính giờ để HÀNH SỰ (tiếp diễn của bắt đầu) ?
Và tính giờ để KẾT SỰ (vạn sự kết cục) ?

Xin chân thành cảm ơn bác.
:( Em chưa học được cách đó. Cám ơn bác đã nhắc, để em hỏi cô giáo thêm hehe. Thích cô giáo ghê, cô giáo giỏi mà còn xinh đệp nữa chứ
Trang 1/5 1 2 3 ... cuốicuối